Ý kiến thăm dò

Bạn quan tâm đến chuyên mục nào trên trang?

Truy cập

Hôm nay:
151
Hôm qua:
151
Tuần này:
907
Tháng này:
907
Tất cả:
157351

Di tích thắng cảnh trên địa bàn xã Vĩnh Thành

Đăng lúc: 10:53:18 26/04/2016 (GMT+7)

Hiên nay trên mảnh đất Vĩnh Thành có nhiều di tích lịch sử văn hoá đó là


1 - Di tích văn hoá Phà Công

Theo Lịch sử Thanh Hoá tập một ở trang 125 xếp di tích văn hoá Phà Công là một di chỉ khảo cổ học thuộc di tích văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hoá. Qua tìm hiểu những hiện vật phát hiện được của di chỉ Phà Công ta biết đuợc người Việt cổ đã định cư ở đây trên 2000 năm, vào thuở các vua Hùng dựng nước.


2 - Di tích lịch sử La Thành

Thành nhà Hồ gồm ba bộ phận:  La Thành ( hay còn gọi là thanh Đại La); Hào thành và Hoàng thành. La thành là thành phía ngoài cùng được đắp bằng đất. La thành cáo bao nhiêu mét hiện không có tài liệu nào ghi chép. Những đoàn thành còn lại đến hôm nay thì thấy chân thành rộng tới 30 mét. Truyền lại rằng sát chân la thành ở phía trong có đường cho binh lính, voi, ngựa hành quân, bên ngoài thành không nhìn thấy được. Trên đất Vĩnh Thành có hai đoạn thành Đại La, đoạn thứ nhất nằm giáp danh giữa làng Hà Lương và làng Cao Mật dài khoảng 700 mét từ bờ sông Mã đến chân núi Đún (phía Tây). Đoạn thứ hai dài khoảng 1500 mét từ đuôi núi Kiện đến giáp đất của làng Cổ Điệp và làng Bái Xuân (gần với khu ba gò). Những đoạn thành Đại La trên đất Vĩnh Thành hiện được sử dụng làm đường giao thông và san bằng làm đất thổ cư và đất canh tác.

 

nhaho.jpg

 


3 - Di tích Lịch sử Đàn tế Nam Giao Đốn Sơn

Năm 1397 Hồ Quý Ly cho xây dựng kinh đô mới ở An Tôn ( Vĩnh Lộc - Thanh Hoá) gọi là Tây Đô, rồi buộc vua Trần phải dời triều đình về đó... Năm 1400 Hồ Quý Ly bức Thiếu Đế nhường ngôi vua cho mình, lập nên triều đại Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu. Để hoàn thiện kinh đô mới ngoài việc xây cung điện trong Hoàng thành, đắp La thành... triều Hồ đã cho đắp đàn tế Giao. '' Nhâm Ngọ (1402) tháng 8 Hồ Hán Thương đắp đàn tế Nam Giao ở Đốn Sơn để làm lễ tế Giao... Lệ cũ của đời trước có nghi lễ bái yếu hai bậc, quan lại và người theo hầu rất đông. Cứ 3 năm cử hành đại lễ một lần, 2 năm cử hành trung lễ một lần, 1 năm cử hành tiểu lễ một lần" (1). Tế Giao là quốc lễ, tức lễ tế trời vào tiết Đông chí, lễ tế Đất vào tiết Hạ chí. Đàn tế Giao bao giờ cũng đắp ở phía Nam kinh thành nên còn gọi là Đàn tế Nam Giao.

 

nh1.JPG

Khu di tích đàn Nam Giao nằm trong lòng tay ngai núi Đún. Núi Đún là một quả núi dài có hai đỉnh gọi là đỉnh Đún và đỉnh Kiện. (còn gọi là núi Kiện) Đàn Nam Giao được chọn đặt ở khu vực giữa của hai đỉnh này. Hiện tại đàn Nam Giao đã bị san phẳng, bên trên là những cây cối và cả nhà dân ở. Trong hai tháng 6 và 7 năm 2004 Ban quản lý di tích và danh thắng thuộc Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Thanh Hoá đã phối hợp với Viện Khảo cổ học và Viện Bảo tồn di tích khai quật di tích đàn Nam Giao. Qua khai quật tìm hiểu, các chuyên gia khảo cổ học đánh giá dấu tích đàn tế Nam Giao ở Đốn Sơn vẫn còn khá rõ trên mặt đất với 3 cấp nền đàn đó là nền Thượng, nền Trung, nền Hạ và mỗi cấp có cao độ, có chiều dài , chiều rộng khác nhau.

 


Đàn tế Nam Giao thời nhà Hồ ở Đốn Sơn có diện tích khoảng 2 ha khá hoành tráng, đạt được những quy chuẩn về kỹ thuật xây dựng cũng như văn hoá tâm linh. Mỗi một quốc gia chỉ có duy nhất một đàn tế Giao. Đàn Nam Giao Thăng Long thời Lý đã bị xoá sổ. Đàn Nam Giao Huế cũng đã từng bị tàn phá, chỉ mới được phục hồi lại cuối thế kỷ XX. Di tích đàn Nam Giao Tây Đô nằm trên đất Vĩnh Thành là một di tích có vị trí đặc biệt trong đời sống kiến trúc dân tộc, đang được nghiên cứu và bảo vệ.

 


4 - Đền thờ Trần Khát Chân

Đền thờ Trần Khát Chân được dựng bên sườn núi Đún nên dân làng thường gọi là đền Đún. Đền nằm trên địa phận làng Cao Mật, hướng Đông - Bắc. Đền thờ Trần Khát Chân ngoài giá trị lịch sử văn hoá còn có giá trị về kiến trúc nghệ thuật với đường nét chạm trỗ và cấu trúc qua hệ thống vì kéo có giá trị. Các bức đại tự, hoành phi, câu đối, hương án đồ thờ... chạm khắc nghệ thuật độc đáo. Đền có nhà hậu cung (chính tẩm) 2 gian xây cuốn vòm bên trên lợp ngói vẩy. Theo các cụ truyền lại ở hậu cung là nơi có mộ táng Trần Khát Chân, bên trên ngôi mộ là một bệ thờ, gọi là '' thượng sàng hạ mộ". Từ xưa để lại trên bàn thờ chính giữa đặt long ngai, bên trong có thánh vị, trên ngai khoác tấm áo gấm vàng, có bố tử màu đỏ, mũ và đai chầu cùng đôi hia đều đen viền vàng. Được phép của ngành Văn hoá- Thông tin, vào ngày 28 tháng 9 âm lịch Ất Dậu (ngày 30 tháng 10 năm 2005) xã Vĩnh Thành đã tổ chức rước tượng Trần Khát Chân đặt trong hậu điện để thờ. Tượng ngài do nhân dân ở hương Cổ Mai xưa, nay thuộc quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội tiến cúng. Trước tượng ngài đặt bát hương, một bên đặt biển gỗ sơn son thếp vàng, giữa biển có ba chữ '' Thượng đẳng thần". Phía trước vòm hậu điện là bức chạm thủng tứ linh, tứ quý đặc biệt có giá trị về nghệ thuật . Nhà trung đường gồm 3 gian bằng gỗ, tường xây gạch, mái lợp ngói. Gian giữa kê tắc tải đặt bát hương lớn thờ nhị vị tức Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất cùng hội đồng văn võ '' Bách linh quan". Gian bên tả thờ quản gia Đô Bác là Thành Hoàng làng Cao Mật. Gian bên hữu thờ vọng triều Trần (Trần Hưng Đạo). Nhà tiền đường cũng gồm 3 gian, trên có bức đại tự chữ vàng '' Thiên cổ như sơn", dưới có tắc tải, hương án thờ đẳng bộ '' bách linh quan". Hai bên là nhà giải vũ có kiệu Long Đình, kiệu Bát Cống và kiệu Mui Luyện. Ở đền Đún có nhiều câu đối, chỉ xin trích một vài câu điển hình ca ngợi chính khí của Trần Khát Chân.

 

tkc.jpg

 

 

Gian hùng phách hổ hoa lâu kiếm

Chính khí linh truyền thạch lộ cung

Tạm dịch

Lầu hoa gươm biếc, gian hùng bay phách lạc

Đường đá cung reo, chính khí còn truyền mãi tiếng thơm.

 

Rất nhiều vương triều nước ta phong sắc cho Trần Khát Chân nhưng chỉ còn các đạo sắc triều Hồng Đức, Khải Định, Thành Thái... Đền thờ Trần Khát Chân ngoài giá trị lịch sử văn hoá còn có giá  trị về kiến trúc nghệ thuật. Các bức đại tự, hoành phi, câu đối, hương án, đồ thờ...chạm khắc nghệ thuật độc đáo. Phần lạc khoản ở đại tự, câu đối đã cho ta biết niên đại cụ thể những bức chạm được chạm khắc vào thời Lê Trung Hưng. Đại việt sử ký toàn thư chép '' Giáp Ngọ, niên hiệu Hồng Đức thứ 5 (1474) tháng 6 ngày 16 ra sắc chỉ rằng: '' Định lệnh khuyến khích trung nghĩa: Trung thần nghĩa sĩ như Lê Phụ Trần, Trần Khát Chân triều trước, Đào Biểu triều này, quan phụ trách và quan phủ huyện phải tìm lấy một người cháu nội hay cháu gọi bằng chú bác của các vị đó xét thực làm bản tấu lên, sẽ cho một chức nhàn tản; nếu không có cháu thì mới cho một người thân thuộc đựợc miễn lính và thuế coi việc thờ cúng " (1) Từ những dòng sử liệu quý giá trên, chúng ta được biết đền thờ Thượng tướng quân Trần Khát Chân được xây dựng muộn nhất vào thời Hồng Đức (1470-1497).


Từ khi lập đền trải qua bao năm tháng, có thời kỳ đền bị hư hại và xuống cấp. Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, của ban quản lý đền và du khách thập phương đã đóng góp tiền cuả, công sức và có một phần ngân sách của Nhà nước đã sửa sang tôn tạo đền Trần Khát Chân như ngày nay. Đền thờ thượng tướng quân Trần Khát Chân được Bộ Văn hoá - Thông tin ra Quyết định số 51/2001/QĐ - BVHTT ngày 27/12/2001 công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Hiện nay đền có Ban quản lý di tích do xã thành lập quản lý và chịu trách nhiệm hương khói ngày tuần, ngày lệ trong năm. Riêng ngày kỵ Trần Khát Chân vào 24 tháng 4 âm lịch được nâng lên thành lễ hội cấp huyện do huyện tổ chức hoặc giữa huyện và xã cùng tổ chức.


5-Chùa Nhân Lộ

Chùa Nhân Lộ thuộc làng Nhân Lộ. Làng Nhân Lộ khi mới hình thành có tên là làng Giò, nên chùa của làng cũng gọi là chùa Giò. Chùa Nhân Lộ có tên hiệu là Phúc Long Tự. Nhưng chùa xây dựng khi nào hiện vẫn chưa biết được vì không có tài liệu gì để lại.


Theo những người cao tuổi, chùa Nhân Lộ trước đây có nhà thờ Phật gồm 3 gian và hậu cung, có nhà thờ Mẫu (phủ) gồm 3 gian. Ngoài ra chùa còn có một nhà 4 gian là nơi sinh hoạt của tăng sư. Tất cả các nhà trên đều được làm bằng gỗ , tường xây gạch, mái lợp ngói. Chùa có hướng Tây - Nam, xa xa là dãy núi đá Xuân Đài như bức bình phong phía trước, sát với sân chùa là dòng sông Mã quanh năm nước chảy cuồn cuộn. Tất cả đã làm nên cảnh trí của chùa thật hữu tình, ít nơi nào có được. Do cảnh chùa đẹp, lại nằm ở phủ lỵ Quảng Hoá, có đường sông, đường bộ đi qua rất thuận lợi nên từ xưa chùa Nhân Lộ đã nổi tiếng đông khách đến vãng cảnh và lễ chùa.


Năm 1992 chùa Nhân Lộ được công nhận là di tích lịch sử Văn hoá cấp tỉnh. Những năm gần đây được sự giúp đỡ của chính quyền các cấp, đồng thời có sự phát tâm công đức của khách thập phương, từ năm 1998 đến năm 2003 chùa Nhân Lộ đã được xây dựng mới toàn bộ các công trình, hạng mục như nhà chùa, nhà Mẫu, nhà Tổ, tháp Tổ, nhà Tứ Ân, gác chuông, cổng chùa, nhà sinh hoạt của tăng sư. Các công trình đều được xây dựng bằng cốt thép xi măng. Chùa có hậu cung dài 9m, rộng 6m và tiền đường 3 gian có chiều dài 7,5m, rộng 4,2m. Nhà thờ Mẫu (phủ) gồm 3 cung đó là cung đệ nhất (hậu cung) rộng 15 m2, cung đệ nhị 3 gian, cung đệ tam 3 gian. Nhà Tứ  Ân 4 gian. Tất cả các nhà trên đều xây cuốn vòm, lợp ngói mũi. Nhà Tổ có 3 gian trong và 3 gian ngoài, nhà làm kiểu gác chếch, lợp ngói mũi, nhưng toàn bộ chếnh, kèo, xà đều làm bằng cốt thép xi măng. Riêng 5 gian nhà ở và sinh hoạt của tăng sư là nhà mái bằng và có 2 gian tầng 2. Tương lai gần chùa Nhân Lộ sẽ là điểm hẹn của du khách gần xa..


6 - Cụm di tích đình, đền Hà Lương.

Cụm di tích đình, đền và cả chùa Hà Lương nằm bên tả ngạn sông Mã, trong cảnh sắc nước, mây trời. Đình, đền Hà Lương là di tích lịch sử. Các nhân vật đuợc phối thờ trong đền là những nhân vật lịch sử có lai lịch rõ ràng, là những người có đức lớn với nước, với dân được nhân dân khắp nơi xa gần mến mộ đó là Lưu Hưng Hiếu, Trần Khát Chân (1).

 

Đình, đền ở đây là những công trình tín ngưỡng hoàn toàn của Việt Nam nói chung và của làng Hà Lương nói riêng. Nó gắn chặt với lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phương. Đây cũng là bằng chứng của tấm lòng biết ơn sâu sắc của người dân địa phương đối với những anh hùng, các nhân vật lịch sử của dân tộc, của quê hương mình.

 

Do tác động của thiên nhiên và con người, nên đình, đền và chùa ở Hà Lương đã bị hư hại. Công việc tu bổ, khôi phục đình, chùa, đền vẫn đang được xúc tiến. Riêng ngôi đền 3 gian trong cụm di tích đã được xây dựng hoàn chỉnh từ năm 1997. Trong đền dân làng phối thờ những vị thần từ xưa được thờ trong làng đó là: Quản gia Đô Bác (Thành Hoàng làng), Thượng tướng quân Trần Khát Chân, và Lưu Hưng Hiếu. Đình, đền Hà Lương được Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin Thanh Hoá ra Quyết định số 321/QĐ VHTT ngày 13 tháng 10 năm 1998 công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh.